Các trường hợp thỏa thuận tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn. Những thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng này bị vô hiệu rất nhiều liệu nguyên nhân là gì? Căn cứ để chế độ đó bị vô hiệu.

Theo luật Hôn nhân gia đình 2014 có quy định, các trường hợp khiến cho thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tòa án tuyên bố vô hiệu.

Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn khoản 1 Điều này.

Khi không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy đinh tại Bộ luật dân sự và các luật có liên quan khác. Điều kiện giao dịch dân sự có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”

–  Tòa án tuyên bố vô hiệu khi vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30,31 và 32 của luật này về.

Tư vấn Hôn nhân và gia đình

Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng; Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng; Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.

Ở Điều 31 luật này được hướng dẫn cụ thể tại điểm a khoản 2 điều 6 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP:

“a) Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng quy định tại Điều 31 và điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.”

2. Tòa án quyết định tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu khi thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình và lưu ý một số trường hợp sau đây:

“a) Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng quy định tại Điều 31 và điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.”

–  Vô hiệu khi nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.( được quy định chi tiết tại điểm b khoản 2 điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP )

Đây là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định.

Bên cạnh đó, chúng ta cần phải xác định xem quyết định của tòa án tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là vô hiệu toàn bộ hay vô hiệu một phần để xem xét hiệu lực của thỏa thuận đó, điều này được quy định chi tiết tại khoản 1 điều 6 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần.

a) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ thì chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.

b) Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị tuyên bố vô hiệu một phần thì các nội dung không bị vô hiệu vẫn được áp dụng; đối với phần nội dung bị vô hiệu thì các quy định tương ứng về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng.

Mọi vướng mắc quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn chi tiết hơn.

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Nghĩa vụ của bố , mẹ đối với con là không thể thay đổi dù có ly hôn. Bố, mẹ có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc nuôi dưỡng con. Trên thực tế những vụ ly hôn đơn phương hầu hết đều do vợ và chồng không thỏa thuận được vấn đề về người sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con. Tòa án luôn quyết định người có quyền trực tiếp nuôi dưỡng với mong muốn con có đầy đủ điều kiện để phát triển tốt nhất. Vậy sau khi ly hôn vợ, chồng có quyền yêu cầu thay đổi người có quyền nuôi con hay không?

Thay đổi người có quyền trực tiếp nuôi con là quyền của vợ, chồng sau khi ly hôn. Quyền này được quy định cụ thể tại Điều 84, Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trongtrường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

Thay đổi tên cá nhân

Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

4. Trongtrường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Theo quy định trên, Căn cứ để tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sẽ là:

Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con. Điều này có nghĩa cha, mẹ sẽ cùng thỏa thuận lại về việc người sẽ trực tiếp nuôi con. Việc thỏa thuận này sẽ phải lập thành văn bản và gửi đến Tòa. Dựa trên văn bản thỏa thuận này và lợi ích của con Tòa án sẽ ra quyết định thay đổi người có quyền nuôi con

Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Điều kiện để trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con có thể hiểu là điều kiện về tài chính, nơi ở hay vấn đề về đạo đức, nhân phẩm của người trực tiếp nuôi con. Chẳng hạn như người trực tiếp nuôi dưỡng con có lỗi sống đồi trụy thì cha, mẹ căn cứ vào thực tế điều kiện của người trực tiếp nuôi dưỡng con để yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Trên đây là nội tư vấn của chúng tôi về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Trong trường hợp cần tìm hiểu thêm quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn.

 

Thay đổi người có quyền nuôi con sau khi ly hôn

Nghĩa vụ của bố , mẹ đối với con là không thể thay đổi dù có ly hôn. Bố, mẹ có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc nuôi dưỡng con. Trên thực tế những vụ ly hôn đơn phương hầu hết đều do vợ và chồng không thỏa thuận được vấn đề về người sẽ trực tiếp nuôi dưỡng con. Tòa án luôn quyết định người có quyền trực tiếp nuôi dưỡng với mong muốn con có đầy đủ điều kiện để phát triển tốt nhất. Vậy sau khi ly hôn vợ, chồng có quyền yêu cầu thay đổi người có quyền nuôi con hay không?

Thay đổi người có quyền trực tiếp nuôi con là quyền của vợ, chồng sau khi ly hôn. Quyền này được quy định cụ thể tại Điều 84, Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trongtrường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tư vấn luật hôn nhân gia đình

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trongtrường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trongtrường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Theo quy định trên, Căn cứ để tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con sẽ là:

Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con. Điều này có nghĩa cha, mẹ sẽ cùng thỏa thuận lại về việc người sẽ trực tiếp nuôi con. Việc thỏa thuận này sẽ phải lập thành văn bản và gửi đến Tòa. Dựa trên văn bản thỏa thuận này và lợi ích của con Tòa án sẽ ra quyết định thay đổi người có quyền nuôi con

Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Điều kiện để trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con có thể hiểu là điều kiện về tài chính, nơi ở hay vấn đề về đạo đức, nhân phẩm của người trực tiếp nuôi con. Chẳng hạn như người trực tiếp nuôi dưỡng con có lỗi sống đồi trụy thì cha, mẹ căn cứ vào thực tế điều kiện của người trực tiếp nuôi dưỡng con để yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Trên đây là nội tư vấn của chúng tôi về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Trong trường hợp cần tìm hiểu thêm quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn.

 

Xử lý kết hôn trái pháp luật

Trước tình trạng kết hôn trái pháp luật diễn ra ngày càng nhiều, và phức tạp. Vậy để giải quyết được việc kết hôn trái pháp luật thì Nhà nước đã đưa ra các quy định để xử lý việc kết hôn trái pháp luật. Tại Điều 11 Luật HN&GĐ đã quy định về việc xử lý việc kết hôn trái pháp luật.

– Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

– Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Theo quy định của luật hôn nhân gia đình 2014 này thì thẩm quyền xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện. Theo điều 29 bộ luật tố tụng dân sự 2015 có thể hiện về những yêu cầu về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án trong đó có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật theo khoản 1 điều 29 này.

Khi xem xét, giải quyết yêu cầu hủy thì chúng ta cũng phải chia ra các trường hợp, trái vì lý do gì nên dõi theo điều 8 Luật hôn nhân và gia đình để xem xét lại điều kiện kết hôn để xem trái ở điều kiện nào. Pháp luật quy định tại khoản 2 điều 11 luật hôn nhân gia đình về trường hợp 2 bên trái khi đủ điều kiện mà có yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Và được xử lý này được quy định cụ thể hơn tại  khoản 2 điều 4 của thông tư Số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP

Điều 4. Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

1. Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tạiĐiều 8 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình để quyết định.

2. Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tạiĐiều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:

a) Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn.

Tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình

Ví dụ 1: Anh A sinh ngày 25-01-1996, chị B sinh ngày 10-01-1995. Ngày 08-01-2015, anh A và chị B đăng ký kết hôn. Ngày 25-9-2016, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tại phiên họp, anh A và chị B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị B kể từ thời điểm cả anh A và chị B đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 25-01-2016.

Ví dụ 2: Anh A và chị B đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 05-7-2009 và chưa ly hôn. Ngày 10-5-2012, anh A lại kết hôn với chị C. Ngày 12-6-2014, chị B chết. Ngày 15-5-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh A và chị C. Tại phiên họp, anh A và chị C đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị C kể từ thời điểm chị B chết, tức là ngày 12-6-2014.

Ví dụ 3: Ngày 27-5-2009, chị A bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 30-9-2009, chị A kết hôn với anh B. Ngày 12-8-2012, Tòa án quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố chị A mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 12-02-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tại phiên họp, chị A và anh B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của chị A và anh B kể từ thời điểm chị A không còn bị mất năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

b) Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thờiđiểmkết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình.

c) Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thờiđiểmkết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tạiĐiều 8 của Luật hôn nhân và gia đìnhthì thực hiện như sau:

a) Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;

b) Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Trường hợp quyết định theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản này thì Tòa án áp dụng quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

4. Khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không. Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực tại thời điểm giải quyết. Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm 1954, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc thì vẫn xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22-02-1978 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác”.

Trường hợp còn vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn chi tiết hơn.

 

 

 

Căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật

Thực tiễn có rất nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật. Vậy căn cứ vào đâu để có thể hủy kết hôn trái pháp luật. Dưới đây công ty Luật Tuệ Anh tư vấn căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật.

Theo quy định tại Điều 1 Thông tư 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP quy định về căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật như sau:

Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình để xem xét, quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:

1. “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.

Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:

a) Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;

b) Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh.

Ví dụ: Chị B sinh ngày 10-01-1997, đến ngày 08-01-2015 chị B đăng ký kết hôn với anh A tại Ủy ban nhân dân xã X. Tại thời điểm đăng ký kết hôn chị B chưa đủ 18 tuổi (ngày chị B đủ 18 tuổi là ngày 10-01-2015), như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chị B đã đủ tuổi kết hôn, tuy nhiên vì ngày chị B đăng ký kết hôn Luật hôn nhân và gia đình đã có hiệu lực (ngày 01-01-2015) nên chị B đã vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.

Tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình

“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyn quyết định”quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ.

“Lừa dối kết hôn”quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn.

“Người đang có vợ hoặc có chồngquy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.

Việc xác định thời điểm“cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hônquy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình phải căn cứ vào các quy định của pháp luật. Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.

Ví dụ 1: Trường hợp kết hôn khi một bên bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, nếu sau khi bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn mà bên bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn đã biết nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hôn là thời điểm đương sự biết mình bị cưỡng ép, bị lừa dối kết hôn nhưng vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng.

Ví dụ 2: Ngày 15-01-2005, chị B kết hôn với anh A. Đến ngày 15-01-2010, chị B lại kết hôn với anh C. Ngày 25-01-2012, Tòa án có quyết định tuyên bố anh A chết. Ngày 12-6-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị B và anh C. Tại phiên họp, chị B và anh C đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì chị B và anh C phải cung cấp Quyết định của Tòa án tuyên bố anh A đã chết để xác định thời điểm chị B và anh C đủ điều kiện kết hôn. Trong trường hợp này, thời điểm chị B và anh C có đủ điều kiện kết hôn là thời điểm mà Tòa án xác định anh A chết được ghi trong quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn giải đáp.

 

Ly hôn khi mất, thất lạc giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

Mất, thất lạc giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, người vợ hoặc người chồng vẫn có quyền nộp đơn xin ly hôn gửi lên Tòa án cấp có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết, tuy nhiên vợ chồng phải làm các thủ tục cấp lại giấy đăng ký kết hôn hoặc làm giấy cam kết chứng nhận giấy đăng ký kết hôn bị thất lạc, mất và các giấy tờ có liên quan kèm theo để cung cấp cho Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Giấy đăng ký kết hôn còn được gọi là giấy chứng nhận kết hôn được hiểu là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho hai bên nam, nữ khi đăng ký kết hôn. Giấy đăng ký kết hôn là giấy tờ xác minh sự kiện kết hôn giữa hai vợ chồng trên ý chí tự nguyện được nhà nước có thẩm quyền ghi nhận trong sổ hộ tịch.
Trường hợp nếu nhiều năm chung sống mà hai vợ chồng có mâu thuẫn mà không thể hàn gắn dẫn tới ly hôn thì về nguyên tắc hai bên vợ chồng vẫn có quyền nộp đơn xin ly hôn gửi lên tòa án cấp có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.
Để có căn cứ giải quyết, bên cạnh các giấy tờ như: đơn xin ly hôn, bản sao hộ khẩu thường trú, tạm trú, bản sao chứng minh nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu, các giấy tờ chứng minh về tài sản, bản sao giấy khai sinh của các con…, tòa sẽ yêu cầu vợ chồng phải cung cấp bản chính Giấy chứng nhận kết hôn hoặc bản sao (kèm theo đơn giải trình về việc không có bản chính).

Nếu có bản chính giấy chứng nhận kết hôn cung cấp cho tòa cùng các giấy tờ cần thiết  có liên quan thì tòa sẽ giải quyết ly hôn theo trình tự tố tụng dân sự. Nếu rơi vào trường hợp bị mất giấy đăng ký kết hôn thì người vợ, người chồng có 2 cách sau để giải quyết:

 Đăng ký kết hôn

Tư vấn luật dân sự

1. Cách thứ nhất:

Nếu theo thủ tục thông thường, khi bị mất giấy đăng ký kết hôn thì người vợ hoặc người chồng muốn ly hôn phải xin cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trước đây hai vợ chồng đã đăng ký kết hôn.

Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

+ Tờ khai theo mẫu quy định;

+ Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bản sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

+ Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự pháp luật.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch. Trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn cho hai vợ chồng theo thủ tục quy định pháp luật.

Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 1/1 của năm đăng ký kết hôn trước đây.

Sau khi được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, hai vợ chồng vẫn có quyền nộp đơn xin ly hôn gửi lên tòa án cấp có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.
2. Cách thứ hai:

Nếu rơi vào trường hợp bị mất giấy đăng ký kết hôn mà người vợ, chồng muốn ly hôn thì có thể không cần phải trích lục bản sao, cấp lại giấy tờ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã nơi trước đây hai vợ chồng đã đăng ký kêt hôn mà chỉ cần làm bản cam kết với Tòa án là chứng nhận đăng ký kết hôn bị thất lạc và nộp cho Tòa Án để Tòa Án xem xét và giải quyết.

Mọi vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn chi tiết.

Ly hôn đơn phương với người nước ngoài

Ly hôn đơn phương với người nước ngoài là trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên trong đó có một trong các bên là người nước ngoài. Ly hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm các trường hợp sau:

– Người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam đã ra nước ngoài;
– Người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước ngoài và việc kết hôn đó đã được công nhận ở Việt Nam, nay người Việt Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn;

– Người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài.

Về nguyên tắc, Tòa án chỉ xét xử ly hôn khi cuộc sống hôn nhân gia đình rơi vào tình trạng không thể cứu vãn, quan hệ vợ chồng đã ở vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài thêm, mục đích hôn nhân không đạt được.

Như vậy, giải quyết ly hôn trong cả hai trường hợp thuận tình và đơn phương ly hôn đều dựa trên những căn cứ xác nhận mối quan hệ hôn nhân đó không thể tồn tại được nữa.

1. Căn cứ ly hôn đơn phương với người nước ngoài

Theo quy định tại Điều 127 luật hôn nhân gia đình 2014 quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài, thì ly hôn đơn phương với người nước ngoài được quy định như sau:
– Ly hôn giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của luật hôn nhân gia đình năm 2104.

– Ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

– Ly hôn trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu xin ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; trường hợp họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

– Ly hôn khi có tranh chấp về tài sản là bất động sản ở nước ngoài

2. Thẩm quyền giải quyết ly hôn với người nước ngoài

Thẩm quyền giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương với người nước ngoài được quy định tại Điều 33,34,35 bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 xác định thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh thổ thì những vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương.

3.Trình tự giải quyết ly hôn đơn phương với người nước ngoài

– Bước 1: Vợ hoặc chồng nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn đơn phương tại tòa án nhân dân cắp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương nơi bị đơn cư trú;
– Bước 2: Trong thời hạn 5 (năm) ngày làm việc kể từ khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ đầy đủ, hợp lệ Tòa án sẽ thụ lý giải quyết vụ án và sẽ ra thông báo nộp tiền tạm ứng phí cho Tòa án.

– Bước 3: Đương sự nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án dân sự và nộp lại biên lai tiền tạm ứng phí cho Tòa án.

– Bước 4: Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục ly hôn đơn phương chung và ra quyết định hoặc bản án.

4. Hồ sơ khởi kiện ly hôn đơn phương với người nước ngoài

– Đơn khởi kiện ly hôn đơn phương

– Giấy đăng ký kết hôn

– Giấy tờ của bên có quốc tịch Việt Nam gồm:

+ Bản sao chứng thực CMTND/hộ chiếu/thẻ căn cước công dân;

+ Bản sao chứng thực hộ khẩu;

– Giấy tờ của bên có quốc tịch nước ngoài:

+ Bản sao hộ chiếu hoặc visa đã được hợp pháp hóa lãnh sự;

+ Đơn xin được vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết xin ly hôn tại tòa án Việt Nam đã được hợp pháp hóa lãnh sự

– Giấy khai sinh con chung

– Các tài liệu chứng minh tài sản chung

– Giấy tờ chứng minh hành vi bạo lực gia đình, hành vi vi phạm nghiêm trong quyền nghĩa vụ vợ chồng làm cho đời sống hôn nhân rơi vào tình trạng nghiêm trọng không thể kéo dài thêm được.

Mọi vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn miễn phí.

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trường hợp đơn phương ly hôn là trường hợp ly hôn dựa theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng do đó khó tránh khỏi trường hợp một bên vợ hoặc chồng không tham gia phiên tòa vì không muốn ly hôn hoặc vì lý do bất khả kháng. Trong trường hợp đơn phương ly hôn vắng mặt nguyên đơn hoặc bị đơn, trình tự, thủ tục sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

1. Đơn phương ly hôn vắng mặt

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Trường hợp đơn phương ly hôn là trường hợp ly hôn dựa theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng do đó khó tránh khỏi trường hợp một bên vợ hoặc chồng không tham gia phiên tòa vì không muốn ly hôn hoặc vì lý do bất khả kháng. Trong trường hợp đơn phương ly hôn vắng mặt nguyên đơn hoặc bị đơn, trình tự, thủ tục sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
“Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.”

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Tư vấn luậtHN$GĐ

Như vậy, khi tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nguyên đơn và bị đơn phải có mặt tại phiên tòa để giải quyết việc ly hôn. Nếu nguyên đơn hoặc bị đơn vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa (thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng) và tòa án phải thông báo cho bên còn lại, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa. Trường hợp người vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nếu có lý do chính đáng và có bản khai nộp cho tòa thì Tòa án sẽ xét xử vắng mặt.

Trong trường hợp phiên tòa bị hoãn và tòa án triệu tập lần thứ hai mà nguyên đơn hoặc bị đơn vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa (thời hạn hoãn phiên tòa là không quá 01 tháng), nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì sự vắng mặt của một trong hai bên sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý khác nhau.
+ Sự vắng mặt của nguyên đơn tại phiên tòa
Điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:
“Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.”
Theo quy định trên, nếu nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì vụ án sẽ bị đình chỉ và nguyên đơn có quyền khởi kiện lại. Trong trường hợp nguyên đơn không thể đến tham gia phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết việc ly hôn.
+ Sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa
Theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:
“Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật.” 

Như vậy, nếu bị đơn vắng mặt lần thứ hai mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án sẽ tiến hành giải quyết việc ly hôn vắng mặt bị đơn. Nếu bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, bị đơn có quyền khởi kiện lại yêu cầu phản tố. Trường hợp có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án vẫn giải quyết việc ly hôn và yêu cầu phản tố của bị đơn.

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Tư vấn luật HN$GĐ

2. Thủ tục ly hôn vắng mặt
+ Thụ lý vụ án
Sau khi nộp đơn khởi kiện hợp lệ và hoàn thành nghĩa vụ án phí, lệ phí theo quy định, Tòa án sẽ ra thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.
+ Hòa giải và chuẩn bị xét xử
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và thông báo về việc tiến hành hòa giải cho nguyên đơn và bị đơn. Tòa án không tiến hành hòa giải trong trường hợp vụ án yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội hoặc trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng; đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
+ Đưa vụ án ra xét xử
Kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong thời hạn 01 tháng, Tòa án phải mở phiên tòa, trường hợp có lý do chính đáng, thời hạn này là 02 tháng (khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015). Khi vụ án được đưa ra xét xử, đương sự phải có mặt tại phiên tòa. Trường hợp đương sự vắng mặt, giải quyết theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Mọi vướng mắc quý khách vui lòng liên hệ công ty Luật Tuệ Anh – 1900 6226 để được tư vấn miễn phí.

Quyền lưu cư khi ly hôn

Quyền lưu cư khi ly hôn

Nơi ở là một vấn đề nhạy cảm. Để đảm bảo quyền về nơi ở cho mỗi người khi ly hôn, pháp luật có quy định về vấn đề lưu cư. Sau đây, công ty luật Tuê Anh tư vấn quy định pháp luật về vấn đề quyền lưu cư sau khi ly hôn như sau:

Điều 63, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

Quyền lưu cư khi ly hôn

Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

Thời gian 06 tháng là hợp lý để người còn lại có khả năng tìm được chỗ ở hợp pháp cho mình. Đây là cách thức đảm bảo sự nhân đạo và có thể vớt vát chút tình nghĩa cuối cùng của vợ chồng khi ly hôn.

Trong trường hợp cần tìm hiểu thêm, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được giải đáp chi tiết hơn.

 

Quan hệ tài sản,nhân thân của một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về

Thực tiễn cho thấy có rất nhiều trường hợp một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về vậy vấn đề hôn nhân và tài sản của người đó được giải quyết như thế nào? Dưới đây công ty luật Tuệ Anh tư vấn một số quy định liên quan tới vấn đề trên như sau:

Theo điều 67, Luật hôn nhân và gia đình quy định về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản khi vợ, chồng bị tuyên bố đã chết mà trở về:

Thứ nhất, khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tuyên bố một người là đã chết mà vợ hoặc chồng của người đó chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được khôi phục kể từ thời điểm kết hôn. Trong trường hợp có quyết định cho ly hôn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật này thì quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

Quan hệ nhân thân

Tư vấn luật Hôn nhân và gia đình

Thứ hai, quan hệ tài sản của người bị tuyên bố là đã chết trở về với người vợ hoặc chồng được giải quyết như sau:

a) Trong trường hợp hôn nhân được khôi phục thì quan hệ tài sản được khôi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó;

b) Trong trường hợp hôn nhân không được khôi phục thì tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Và theo khoản 3, điều 73, Bộ luật dân sự 2015 quy định về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Toà án tuyên bố là đã chết thì;

Người bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những người đã nhận tài sản thừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn.

Trong trường hợp người thừa kế của người bị tuyên bố là đã chết biết người này còn sống mà cố tình giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã nhận, kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Trong trường hợp còn thắc mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được hỗ trợ giải đáp.

 

Chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn

Khi cuộc sống vợ chồng luôn xảy ra những mâu thuẫn khiến vợ chồng phải ly hôn nhưng khi ly hôn vợ chồng lại gặp những khó khăn trong việc phân chia tài sản nhất là chia quyền sử dụng đất.

Luật HN&GĐ 2014 tôn trọng quyền thỏa thuận của vợ chồng trong việc chia tài sản khi ly hôn. Nếu các bên không thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản là quyền sử dụng đất thì việc phân chia được thực hiện như sau:

1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó.

2. Quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì thực hiện như  sau:

– Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản là tài sản chung của vợ chồng hoăc là tài sản chung của vợ chồng chung với hộ gia đình thì phần quyền sử dụng đất được tách ra, nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết; Nếu chỉ có một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng.

– Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ 2014

Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của Luật đất đai.

– Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyện sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết như sau:

Chia tài sản chung là quyền sử dụng đất

Tư vấn luật Hôn nhân và gia đình

+ Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

+Trong trường hợp tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ 2014

Trên đây là toàn bộ nội dung công ty luật Tuệ Anh tư vấn về chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn. Trong trường hợp còn thắc mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được hỗ trợ giải đáp.

Chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hơp sống chung với gia đình

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà có công sức đóng góp, xây dựng, tạo lập, phát triển khối tài sản chung của gia đình thì khi ly hôn họ sẽ có quyền được chia tương ứng với phần đóng góp của mình. Tuy nhiên, việc xác định tài sản chia trong trường hợp này thông thường khá khó khăn và phức tạp. Vì vậy, bạn cần hiểu và áp dụng tốt các quy định pháp luật để giải quyết. Dưới đây công ty luật Tuệ Anh tư vấn một số vấn đề pháp lý liên quan đến việc chia tài sản chung vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình.

1. Cơ sở pháp lý

Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

“1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.

Chia tài sản chung

Tư vấn luật Hôn nhân và gia đình

3. Chia tài sản chung 

Như vậy có thể chia ra 2 trường hợp:

Thứ nhất, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì được chia căn cứ vào công sức đóng góp để duy trì, phát triển khối tài sản đó. Pháp luật vẫn tôn trọng thỏa thuận của các bên nên trước hết bạn cần thỏa thuận với gia đình. Nhưng nếu hai bên không thỏa thuận được với nhau thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ hai, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đìnhcó thể xác định theo từng phần thì tài sản đó sẽ được trích ra từ khối tài sản chung để chia theo quy định của pháp luật.

Pháp luật hoàn toàn bảo vệ quyền lợi cho vợ, chồng khi sống chung với gia đình mà ly hôn, có tính đến công sức đóng góp thực tế, tức là họ sẽ được hưởng tài sản nhất định trong khối tài sản của gia đình. Tuy nhiên, mức tài sản cụ thể là bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào thoả thuận giữa bạn và gia đình trên cơ sở tính toán về mức đóng góp thực tế hoặc quyết định của Toà án.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình, còn thắc mắc quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được giải đáp.

 

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Chấm dứt quan hệ hôn nhân với một bên khi bị Tòa án tuyên bố là đã chết

Khi Tòa án tuyên bố một người là đã chết có nghĩa sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân của người đó với vợ hoặc chồng. Vậy pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này? Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng khi bị một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết ra sao?

1.Thời điểm chấm dứt quan hệ hôn nhân

Theo Luật Hôn nhân và gia đình quy định, hôn nhân chấm dứt kể từ thời điểm vợ hoặc chồng đã chết hoặc xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án đối với trường hợp Tòa án tuyên một bên vợ hoặc chồng đã chết.

Căn cứ Điều 71 Bộ luật dân sự 2015, Tòa có quyền tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây:

  • Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Toà án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
  • Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
  • Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
  • Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Bộ luật này.
Chấm dứt quan hệ hôn nhân

Tư vấn luật Hôn nhân và gia đình

2. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân với một bên bị tuyên bố là đã chết

Khi Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực thì các quan hệ về nhân thân và tài sản sẽ được giải quyết như đối với người đã chết.

  • Về quyền nhân thân

Chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa hai người kể từ ngày được ghi trong bản án theo quyết định của Tòa án.

  • Về tài sản vợ chồng

Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản. Tài sản trong kinh doanh của vợ chồng đã chấm dứt quan hệ hôn nhân cũng được giải quyết như vậy trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Trong trường hợp có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Tuy nhiên, nếu việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.

3. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong trường hợp chấm dứt quan hệ hôn nhân với một bên bị tuyên bố là đã chết nhưng lại trở về

Việc Tòa án tuyên bố một cá nhân là đã chết, thì đây chỉ là tuyên bố về mặt pháp lý, tuy nhiên, cũng còn khá nhiều trường hợp bị Tòa án tuyên bố là đã chết nhưng lại trở về sau đó. Trong tình huống này, phải giải quyết như thế nào về quan hệ nhân thân đã tuyên bố không còn từ trước và quan hệ tài sản đã được chia từ trước?

Trường hợp người bị Tòa tuyên là đã chết mà trở về thì quan hệ hôn nhân của họ có thể được khôi phục nếu người còn lại chưa kết hôn với ai và quan hệ tài sản cũng được khôi phục kể từ thời điểm Tòa án tuyên bố hủy bỏ quyết định chồng, vợ đã chết. Tài sản do vợ, chồng có được kể từ thời điểm quyết định của Tòa án về việc tuyên bố chồng, vợ là đã chết có hiệu lực đến khi quyết định hủy bỏ tuyên bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của người đó.

Nếu người kia đã kết hôn thì quan hệ hôn nhân sau được thừa nhận và chấm dứt quan hệ hôn nhân trước đó. Điều đó đồng nghĩa với việc quan hệ hôn nhân giữa người bị Tòa tuyên là đã chết nay trở về sẽ không được khôi phục. Và tài sản có được trước khi quyết định của Tòa án về việc tuyên bố vợ, chồng là đã chết có hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hôn.

Trong trường hợp còn thắc mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được giải đáp chi tiết hơn.

 

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn

Cấp dưỡng cho con sau khi ly hôn là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn túng thiếu theo quy định của pháp luật. Dưới đây công ty Luật Tuệ Anh tư vấn một số quy định về mặt pháp lý vấn đề cấp dưỡng như sau:

Theo quy định tại Điều 81 Luật HN&GĐ  quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

Nghĩa vụ cấp dưỡng

Hôn nhân và gia đình

– Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan.

– Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

– Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ với con là nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Theo Điều 82 Khoản 2 Luật HN&GĐ 2014 thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và phải tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.Nếu không thực hiện nghĩa vụ này có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp cần tìm hiểu thêm về nghĩa vụ cấp dưỡng, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được hỗ trợ giải đáp.

 

Quyền lưu cư khi ly hôn

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Hiện nay, các cặp vợ chồng vì lý do nào đó không thể tự sinh con có quyền nhờ người mang thai hộ . Mang thai hộ đã được pháp luật hóa trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tuy nhiên, việc mang thai hộ là vấn đề hết sức nhạy cảm, không phải trường hợp nào muốn cũng có thể nhờ hoặc mang thai hộ. Dưới đây công ty Luật Tuệ Anh tư vấn điều kiện để được mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

Theo quy định Điều 95  luật HN&GĐ quy định cụ thể về các điều kiện mang thai hộ như sau:

Thứ nhất, Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

Thứ hai, vợ chồng đang không có con chung;

Thứ ba, vợ  chồng đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Điều kiện đối với người mang thai hộ như sau:

Thứ nhất,  là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

Thứ hai,  đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

Thứ ba, ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

Thứ tư, trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng

Thứ năm, đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Hôn nhân và gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con, trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con, thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con. Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con, thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết, thì con được hưởng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ…

Pháp luật quy định rất chặt chẽ về thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Theo đó, thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải bảo đảm các điều kiện:

– Lập thành văn bản có công chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý. Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này;

–  Có thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên;

– Quy định rõ quyền, nghĩa vụ về hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ;

–  Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.

Trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan tới việc mang thai hộ thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không còn mà bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ, thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho đứa trẻ  theo quy định của Bộ luật dân sự. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ không nhận con và bên mang thai hộ không tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ, thì Tòa án chỉ định người giám hộ cho đứa trẻ, bên nhờ mang thai hộ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

Quy định trên về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thể hiện tính nhân văn sâu sắc, đáp ứng nhu cầu làm cha làm mẹ của các cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Trong trường hợp cần tư vấn thêm quý khách vui lòng liên hệ tổng đại 1900 6226 để được hỗ trợ giải đáp.

 

 

Chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân bị vô hiệu

Trong nhiều trường hợp, mục đích của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản, do đó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người có liên quan. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhà nước và của những người khác về tài sản, liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Luật HN&GĐ 2014 đã dự liệu những trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu. Dưới đây, công ty Luật Tuệ Anh tư vấn một số trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng bị vô hiệu như sau:

 Thứ nhất,  Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

Thứ hai, Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây:

a) Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng;

b) Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

c) Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản;

d) Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức;

đ) Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước;

e) Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Chia tài sản chung

Tư vấn luật HN&GĐ

Quy định này đã tạo ra một hành lang pháp lý để các cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng khi vợ chồng chia tài sản chung, có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình, đồng thời góp phần tích cực vào việc đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm trên thực tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba – những người có quyền lợi liên quan đến tài sản của vợ chồng.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi, còn những vướng mắc quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được hỗ trợ giải đáp.

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Vấn đề ly hôn theo quy định pháp luật

Theo quy định pháp luật thì ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng. Dưới đây công ty chúng tôi tư vấn về vấn đề này như sau:

1. Căn cứ ly hôn

Căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn.

Việc giải quyết ly hôn cần dựa trên các điều kiện nhất định. Theo quy định thì căn cứ để Tòa xem xét cho ly hôn là:

* Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

– Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

– Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

* Cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được xác định căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như đã hướng dẫn ở trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

* Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.

Ly hôn

Tư vấn luật HN&GĐ

2. Ly hôn trong trường hợp vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích

Vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tíchThực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

– Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.

– Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn.

3. Ly hôn có yếu tố nước ngoài

Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

– Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam.

– Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

– Bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn chi tiết hơn.

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định của pháp luật

Khi mâu thuẫn vợ chồng đã đi đến căng thẳng, mọi sự cố gắng, níu kéo cũng như nỗ lực hòa giải đều đi đến bế tắc thì ý định ly hôn là giải pháp được mọi người lựa chọn.

Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.Vậy ai có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn? Dưới đây côn gty chúng tôi tư vấn về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

 “Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

  1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
  2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
  3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

Theo quy định tại khoản 1 thì vợ, chồng đều có quyền như nhau trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Toà án phải tiến hành hoà giải, trong trường hợp hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản hoà giải không thành, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung.

Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Hôn nhân và gia đình

Luật HN&GĐ 2014 bổ sung thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn là cha, mẹ, người thân thích khác trong trường hợp một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ 2014 . Theo đó, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì từ ngày 01/01/2015, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Quy định này đã tháo gỡ cho nhiều trường hợp bức xúc muốn xin ly hôn giùm người thân bị mất năng lực hành vi mà không được do luật cũ chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để xin ly hôn.

Về nguyên tắc, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên có một hạn chế đó là trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ 2014 . Theo đó, vợ có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn. Trường hợp hạn chế yêu cầu ly hôn chỉ áp dụng với người chồng mà không áp dụng đối với người vợ. Trong mọi khoảng thời gian, dù người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu xét thấy tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã hết, mâu thuẫn gia đình đến mức sâu sắc, mục đích của hôn nhân không đạt được; nếu duy trì sẽ bất lợi cho người vợ, ảnh hưởng tới sức khỏe của người vợ hoặc thai nhi hay trẻ sơ sinh mà người vợ có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện theo thủ tục chung. Quy định này được đặt ra nhằm bảo vệ bà mẹ và trẻ em, cũng như bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi. Vì trong quan hệ vợ chồng, việc sinh đẻ không phải đơn thuần là việc riêng của người vợ, đó là việc chung, là trách nhiệm chung của cả hai vợ chồng.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn giải đáp.

Đơn phương ly hôn vắng mặt

Tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Nói đến quan hệ vợ chồng thường gắn liền với chế độ tài sản chung. Tuy nhiên, pháp luật cũng công nhận vợ hoặc chồng có quyền được sở hữu tài sản riêng.

Dưới đây công ty chúng tôi tư vấn một số vấn đề pháp lý về tài sản riêng của vợ chồng.

1. Căn cứ xác lập tài sản riêng

Theo quy định tại Điều 43 Luật HN&GĐ 2014 thì tài sản riêng của vợ chồng có được bao gồm các tài sản như sau:

  • Tài sản mà mỗi người có được trước khi kết hôn;
  • Tài sản được thừa kế riêng; được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân;
  • Tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại Điều 38,39,40 của Luật này;
  • Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Ngoài ra những tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật HN&GĐ.

Đồng thời, theo quy định tại Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP về tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm:

  • Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ;
  • Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
  • Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ chồng nhận được theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, quyền tài sản khách gắn liền với thân nhân của vợ, chồng.
Tài sản riêng của vợ chồng

tư vấn Luật HN&GĐ

2. Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân

Tài sản riêng của vợ, chồng sẽ được quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt tuyệt đối. Điều 44 Luật HN&GĐ quy định:

  • Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung.
  • Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải đảm bảo lợi ích của người có tài sản.
  • Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
  • Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải có ý kiến của cả vợ và chồng.

3. Nghĩa vụ về tài sản riêng của cả vợ và chồng

Quyền thì luôn đi liền với nghĩa vụ, đối với những tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng sẽ phải chịu trách nhiệm riêng đối với tài sản đó.

–  Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;

–  Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;

–  Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;

–  Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.

Trong trường hợp còn vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226  để được tư vấn giải đáp thêm về tài sản riêng của vợ chồng

 

 

Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

Trên cơ sở bình đẳng, quyền tự do công dân, đảm bảo các quyền và lợi ích của các chủ thể pháp luật ngay cả khi họ không trực tiếp tham gia được các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, lao động,… và các quan hệ xã hội khác. Xuất phát từ nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận trong luật dân sự do khuôn khổ pháp luật mà các cá nhân có thể tự do thỏa thuận giúp đỡ nhau và thỏa mãn lợi ích của nhau. Theo đó quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vợ và chồng có quyền đại diện cho nhau và đại diện cho gia đình theo pháp luật và theo ủy quyền.

Dưới đây công ty Luật Tuệ Anh đưa ra một số vấn đề về mặt pháp lý như sau:

Nghĩa vụ đại diện giữa vợ và chồng là việc vợ, chồng thay mặt người kia khi người kia mất NLHVDS hoặc hạn chế NLHVDS  hoặc một số trường hợp khác thực hiện trên giấy tờ chỉ đứng tên vợ hoặc chồng được giới hạn người đứng tên trên giấy tờ được phép đại diện.

Thứ nhất, Luật HN&GĐ là quy định cụ thể về các căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng như sau:

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch được xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.”

Đại diện giữa vợ và chồng

tư vấn Luật HN&GĐ

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

Trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.

Thứ hai, khoản 1 Điều 25 Luật HN&GĐ có quy định về việc đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh: “Trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì người trực tiếp kinh doanh là người đại diện cho bên kia trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.

Trường hợp vợ chồng có thỏa thuận bằng văn bản về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó.

Luật còn quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng. Trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật HN&GĐ  thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi theo quy định của pháp luật.

Xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích chung của gia đình, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chồng thì việc đặt ra vấn đề đại diện là vô cùng cần thiết. Như vậy có thể tránh việc các giao lưu dân sự giữa vợ, chồng với người thứ ba bị gián đoạn, hạn chế, tránh kìm hãm sự phát triển chung của xã hội.

Trên đây là toàn bộ nội dung về xác lập đại diện giữa vợ và chồng. Trong trường hợp còn vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được hỗ trợ giải đáp.

Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Trong thời kỳ hôn nhân có những tài sản thuộc tài sản chung của vợ chồng, pháp luật đã có những quy định cụ thể về tài sản chung của vợ chồng. Dưới đây, công ty Luật Tuệ Anh tư vấn một số vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.

1. Tài sản chung

Điều 33 Luật HN&GĐ quy định cụ thể về tài sản chung của vợ chồng. Theo đó:

+   Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

–    Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

–     Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

+   Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

+   Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Tài sản chung của vợ chồng

tư vấn Luật HN&GĐ

2. Chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung

Điều 35 Luật HN&GĐ quy định cụ thể về chiếm hữu, sử dụng định đoạt tài sản chung của vợ chồng.

– Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

–  Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

4. Chia tài sản trong thời kì hôn nhân

Điều 38 luật HN&GĐ quy định cụ thể về chia tài sản chung của vợ chồng như sau:

– Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

–  Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59.

4. Hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng

– Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

–  Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Trong trường hợp còn vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được hỗ trợ giải đáp.

 

 

Kết hôn trái pháp luật theo quy định Luật HN&GĐ 2014

Gia đình là một  tế bào của xã hội, cùng với sự phát triển của xã hội, mối quan hệ của gia đình ngày một gắn bó hơn, bên cạnh đó cũng phát sinh nhiều những vụ việc kết hôn trái pháp luật gây hậu quả không tốt cho gia đình và xã hội. Nhằm hạn chế việc kết hôn trái pháp luật.Luật HN&GĐ năm 2014, quy định cụ  thể về kết hôn trái pháp luật như sau:

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn .

1. Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

– Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức có chức năng yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định.

– Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định:

a) Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

– Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có quyền đề hủy việc kết hôn trái pháp luật.

2. Hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

– Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy thì hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

– Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.

– Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định luật hôn nhân gia đình.

Việc xử lý việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền.

Kết hôn trái pháp luật

tư vấn Luật HN&GĐ

Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước.

3. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

– Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định của Luật HN&GĐ

– Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.

4. Luật cũng quy định rõ giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

– Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

– Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.

Trên đây là những nội dung quy định về kết hôn trái pháp luật. Trong trường hợp còn vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được giải đáp.

Xin cảm ơn!

 

Quyền lưu cư khi ly hôn

Điều kiện kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Hôn nhân là sự tự nguyện xác lập mối quan hệ gắn bó từ hai phía nam nữ và dựa trên nền tảng là tình yêu. Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, pháp luật cũng đưa ra một số điều kiện kết hôn, nhưng điều kiện đó được quy định như thế nào? Dưới đây công ty luật Tuệ Anh tư vấn quy định pháp luật về vấn đề này.

Điều 8. Điều kiện kết hôn

“1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

  1. a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
  2. b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
  3. c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
  4. d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
  5. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.

Luật HN&GĐ nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành đủ 18 tuổi thay vì vừa bước qua tuổi 18 như quy định tại Luật HN&GĐ .

Điều kiện kết hôn

Tư vấn luật HN&GĐ

Luật mới quy định tuổi kết hôn đối với nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên đối nữ và với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên. Sở dĩ có việc thay đổi này là vì nếu quy định tuổi kết hôn của nữ là vừa bước qua tuổi 18 thì quy định này là không thống nhất với BLDS  và BLTTDS. Đó là, theo BLDS người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý… Còn theo BLTTDS thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18 tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữ khi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện.

Cùng đó Nhà nước cũng quy định cụ thể về các trường hợp cấm kết hôn như sau:

+ Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

+  Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

+ Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

+ Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Như vậy, nhà nước đã bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người đồng giới và một số chế tài xử phạt kèm theo kể từ ngày 1/1/2015. Tuy nhiên, việc bỏ quy định cấm này không đồng nghĩa với việc hôn nhân giữa những người cùng giới tính được pháp luật thừa nhận. Tức là, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống với nhau tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. Đây cũng được coi là một bước tiến nhỏ trong việc nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay.

Trên đây là toàn bộ nội dung liên quan đến vấn đề điều kiện kết hôn. Trong trường hợp còn những vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được tư vấn cụ thể hơn.

 

Quyền lưu cư khi ly hôn

Thủ tục công nhận việc kết hôn

Cùng với xã hội phát triển ngày nay, việc  kết hôn giữa công dân Việt Nam với một công dân nước ngoài không còn xa lạ. Vậy pháp luật các nước khác nhau thì việc đăng ký kết hôn và công nhận hôn nhân đó sẽ như thế nào? Dưới đây công ty luật Tuệ Anh tư vấn thủ tục công nhận việc kết hôn:

1. Thành phần hồ sơ

– Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài;

– Bản sao giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

– Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;

Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

– Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu; Trường hợp công nhận việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà trước đó công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp Giấy xác nhận về việc ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã tiến hành ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Trình tự thực hiện thủ tục công nhận việc kết hôn

Bước 1:  Một trong hai bên kết hôn nộp hồ sơ trực tiếp tại Cơ quan đại diện hoặc Sở Tư pháp có thẩm quyền.

Bước 2: Cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ, viết phiếu tiếp nhận hồ sơ nếu hồ sơ hợp lệ, ghi rõ ngày trả kết quả.

Trường hợp người yêu cầu nộp hồ sơ, chưa đúng, không hợp lệ hoặc nộp tại cơ quan không có thẩm                        quyền thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn cụ thể cho người có yêu cầu.

Bước 3: Cơ quan đại diện/Sở Tư pháp xem xét, thẩm tra hồ sơ

+ Nếu công dân Việt Nam cư trú trong nước tại thời điểm làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm                   quyền của nước ngoài thì Sở Tư pháp kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân               cho công dân đó. Trường hợp công dân Việt Nam được cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại địa bàn               tỉnh khác, thì Sở Tư pháp có văn bản gửi Sở Tư pháp nơi đã cho ý kiến về việc cấp Giấy xác nhận tình                     trạng hôn nhân, đề nghị kiểm tra, đối chiếu. Nếu việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bảo đảm đúng               trình tự, thủ tục, việc kết hôn bảo đảm điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 36 của Nghị định số                           126/2014/NĐ-CP, thì ghi vào sổ việc kết hôn;

+ Nếu việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân không đúng trình tự, thủ tục thì Sở Tư pháp tiến hành xác               minh, làm rõ. Trường hợp kết quả xác minh cho thấy các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật                 Hôn nhân và gia đình vào thời điểm yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì Sở Tư pháp vẫn tiến             hành ghi vào sổ việc kết hôn.

Bước 4: Sau khi thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn, người đứng đầu Cơ quan đại diện/Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho người yêu cầu giấy xác nhận ghi vào sổ việc hộ tịch đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo mẫu quy định.

Trường hợp từ chối ghi vào sổ việc kết hôn, Cơ quan đại diện/Sở Tư pháp trả lời bằng văn bản cho người                 có yêu cầu, trong đó nêu rõ lý do.

3. Cơ quan giải quyết thủ tục công nhận việc kết hôn 

Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; Sở Tư pháp, nơi đăng ký thường trú của công dân Việt Nam thực hiện ghi vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

4. Thời hạn giải quyết thủ tục công nhận việc kết hôn 

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục công nhận việc kết hôn . Trong trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài không quá 05 ngày làm việc.

Trên đây là những nội dung công ty luật Tuệ Anh tư vấn về thủ tục công việc kết hôn. Nếu còn vướng mắc hay gặp khó khăn trong việc giải quyết; quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 hoặc liên hệ trực tiếp công ty luật Tuệ Anh, địa chỉ 23M2 Trần Kim Xuyến, khu đô thị Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội để giải quyết nhanh chóng, kịp thời.

 

Quyền lưu cư khi ly hôn

Tranh chấp về hôn nhân và gia đình

1. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án

  • Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.
  • Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
  • Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
  • Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
  • Tranh chấp về cấp dưỡng.
  • Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
  • Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật

2. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình

  • Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
  • Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
  • Yêu cầu công nhận thỏa thuận của cha, mẹ về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn hoặc công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
  • Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
  • Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi.
  • Yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
  • Yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án.
  • Yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.
  • Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

    Tư vấn luật hôn nhân gia đình

    Tư vấn luật hôn nhân gia đình

3. Nội dung công việc Luật Tuệ Anh tranh tụng các vụ án tranh chấp đất đai

3.1 Giai đoạn tiền tố tụng

  • Xác định quan hệ phát sinh tranh chấp;
  • Xác định đối tượng, phạm vi khởi kiện;
  • Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
  • Xác định chủ thể liên quan vụ việc;
  • Thu thập chứng cứ, xác định căn cứ thủ tục tố tụng;
  • Tổ chức hoà giải, thương lượng giữa các bên;
  • Lập phương án khả thi giải quyết vụ việc của thân chủ
  • Soạn thảo, hoàn thiện Hồ sơ khởi kiện;
  • Nộp Hồ sơ khởi kiện;

3.2. Giai đoạn xét xử Sơ thẩm, phúc thẩm        

  • Cung cấp chứng cứ và hoàn thiện Hồ sơ vụ án;
  • Soạn thảo đơn, Văn bản cần thiết liên quan tới nội dung tranh chấp;
  • Thương lượng, hoà giải trước và trong giai đoạn tố tụng;
  • Soạn thảo, gửi Văn bản ý kiến bào chữa, bảo vệ thân chủ;
  • Tranh tụng bảo vệ quyền lợi của thân chủ tại phiên Tòa sơ thẩm, phúc thẩm;
  • Xác định căn cứ khiếu nại, kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm, Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
  • Soạn thảo Đơn khiếu nại, Đơn kháng cáo;
  • Chuẩn bị Hồ sơ và các tài liệu cần thiết cho các giai đoạn Phúc thẩm, Giám đốc thẩm.
  • Nộp đơn yêu cầu thi hành án, hoãn thi hành án …

3.3. Tư vấn giai đoạn thi hành án dân sự

  • Tư vấn quy trình thực hiện thi hành án;
  • Tư vấn xác minh điều kiện thi hành án;
  • Tư vấn phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ;
  • Tư vấn tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự;

 

 

Quyền lưu cư khi ly hôn

Thủ tục nhập hộ khẩu cho con mới sinh

Nhập hộ khẩu cho con là một việc có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý dân cư của Nhà nước. Việc nhập hộ khẩu cho con mới sinh phải tuân theo những quy định của pháp luật. Trong rất nhiều trường hợp, nhiều người băn khoăn không biết thủ tục nhập khẩu cho con ra sao. Công ty Luật Tuệ Anh tư vấn thủ tục nhập hộ khẩu cho cho con mới sinh như sau:

1. Thành phần hồ sơ

Theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 35/TT-BCA quy định về hồ sơ nhập khẩu như sau:

– Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

–  Bản khai nhân khẩu (đối với trường hợp phải khai bản khai nhân khẩu);

– Giấy chuyển hộ khẩu (đối với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ khẩu quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Cư trú);

– Giấy khai sinh của trẻ mới sinh;

– Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ ( nếu có)

– Hộ khẩu của gia đình

Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

* Lưu ý: Trong trường hợp cha, mẹ của đứa trẻ mới sinh chưa nhập khẩu về với nhau. Thì theo quy định Điều 13 Luật cư trú 2013 thì đứa trẻ được nhập khẩu vào gia đình của người cha, hoặc người mẹ.

2.Thời hạn giải quyết thủ tục nhập hộ khẩu cho con mới sinh

Thời hạn giải quyết tối đa không quá 10 ngày làm việc

3.Thẩm quyền thực hiện

  • Công an xã/phường/thị trấn
  • Đối với thành phố thuộc trung ương thì do cơ quan công an huyện/quận/thị xã giải quyết.

Trên đây là nội dung công ty Luật Tuệ Anh hướng dẫn về thủ tục nhập hộ khẩu cho con mới sinh. Còn vướng mắc, hay khó khăn trong quá trình giải quyết; quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được giải đáp.

Quyền lưu cư khi ly hôn

Tách nhập hộ khẩu khi đăng ký kết hôn

Thủ tục tách nhập hộ khẩu khi đăng ký kết hôn có ý nghĩa quan trọng và được thực hiện theo quy định của pháp luật về cư trú. Theo đó, người thay đổi chỗ ở hợp pháp phải thực hiện thủ tục khai báo và đăng ký hộ khẩu thường trú mới với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, nhiều trường hợp việc thực hiện thủ tục tách, nhập hộ khẩu khi đăng ký kết hôn còn gặp nhiều khó khăn. Dưới đây công ty Luật Tuệ Anh tư vấn về thủ tục tách, nhập hộ khẩu khi đăng ký kết hôn.

1. Thành phần hồ sơ

  • Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
  • Bản khai nhân khẩu;
  • Giấy chuyển hộ khẩu;
  • Hộ khẩu gia đình chồng.

    Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

    Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

2. Thẩm quyền giải quyết

  • Đối với thành phố thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện/ quận/thị xã
  • Đối với tỉnh thì nộp tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện. Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

3.Thời hạn giải quyết

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền cấp Sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời rõ bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong quá trình giải quyết thủ tục tách nhập hộ khẩu khi đăng ký kết hôn, nếu gặp phải vướng mắc, quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 hoặc liên hệ trực tiếp để được hỗ trợ giải quyết kịp thời.

 

Quyền lưu cư khi ly hôn

Thủ tục đăng ký lại việc kết hôn

Như  chúng ta đã biết Việc đăng ký kết hôn phải được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và bản chính giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng thực tế cho thấy, có nhiều lý do khác nhau như sổ đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bị mất, hư hỏng không sử dụng được. Vì vậy, chúng ta phải thực hiện thủ tục đăng ký lại việc kết hôn tại UBND cấp xã mà trước đây đã đăng ký. Công ty Luật Tuệ Anh tư vấn trình tự thủ tục về đăng ký lại việc kết hôn như sau:

1. Thành phần hồ sơ

  • Tờ khai đăng ký lại kết hôn ( theo mẫu). Trường hợp đăng ký tại UBND Cấp xã không phải nơi đương sự đã đăng ký kết hôn trước đây thì tờ khai phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn về việc đã đăng ký, trừ trường hợp đương sự xuất trình được bản sao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn hợp lệ trước đây.
  • Bản sao giấy đăng ký kết hôn cũ ( nếu có); nếu xuất trình được bản sao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cũ hợp lệ trước đây thì không phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn.
  • CMND/ sổ hộ khẩu( công dân trong nước)/ thẻ tạm trú hoặc chứng nhận tậm trú ( đối với công dân nước ngoài tạm trú tại Việt Nam.

    Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

    Tư vấn luật hôn nhân và gia đình

2. Trình tự thực hiện việc đăng ký kết hôn lại

Bước 1: Công dân nộp hồ sơ theo quy định tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ hành chính và nhận phiếu hẹn trả kết quả.

Bước 2:  Cán bộ tiếp nhận hồ sơ chuyển sang bộ phận Tư pháp- Hộ tịch thụ lý hồ sơ;

Bước 3: Cán bộ Tư pháp- hộ tịch thụ lý và giải quyết trong 05 ngày làm việc, trường hợp cần xác minh thì kéo dài không quá 10 ngày làm việc,

3.Thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký lại kết hôn

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn lại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày UBND cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần xác minh thì thời hạn tối đa giải quyết là 10 ngày.

4.Thẩm quyền giải quyết

UBND xã phường/ thị/ trấn trực tiếp giải quyết.

  • Lưu ý

Khi tiến hành thủ tục đăng ký lại việc kết hôn lại thì các bên đương sự phải có mặt. Quan hệ hôn nhân được đăng ký kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây.

Đây là những nội dung mà công ty Luật Tuệ Anh tư vấn cho quý khách về thủ tục đăng ký lại việc kết hôn. Còn vướng mắc quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được giải đáp nhanh chóng, kịp thời.

Thủ tục chấm dứt nuôi con nuôi

    Trong  xã hội hiện nay, việc nhận nuôi con nuôi không còn xa lạ, nhằm xác lập mối quan hệ hợp pháp giữ người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Tuy nhiên, trong, trong quá trình chung sống vì những lý do khác nhau mà một trong các bên muốn chấm dứt việc nuôi con nuôi, việc này cũng cần có sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, muốn thực hiện thủ tục chấm dứt nuôi con nuôi nhanh chóng, luật Tuệ Anh cung cấp dịch vụ và hướng dẫn thủ tục chấm dứt nuôi con nuôi như sau:

1. Căn cứ chấm dứt nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

–  Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

– Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

– Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

– Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật nuôi con nuôi 2010.

2.Thành phần hồ sơ

–  Đơn yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi;

–  Giấy tờ xác nhận việc nuôi con nuôi;

– Chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu người có yêu cầu;

– Các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp

3.Trình tự thực hiện

Bước 1: Gửi đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đến Tòa án nhân dân nơi người có yêu cầu đăng ký thường trú.

Bước 2: Tòa án sẽ tiến hành mở phiên tòa giải quyết việc dân sự. Tòa án sẽ ra quyết định về việc giải quyết chấm dứt nuôi con nuôi, người yêu cầu nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bước 3: Kháng cáo, kháng nghị quyết định của Tòa án ( nếu có). Nếu đương sự và những người có quyền lợi liên quan không có kháng cáo  thì quyết định của Tòa có hiệu lực pháp luật.

4. Thẩm quyền giải quyết thủ tục chấm dứt nuôi con nuôi

– Tòa án quận/huyện nơi người yêu cầu đăng ký hộ khẩu thường trú.

    Trên đây là những vấn đề về thủ tục liên quan tới chấm dứt nuôi con nuôi, còn những vướng mắc chưa rõ. Quý khách vui lòng liên hệ tổng đài 1900 6226 để được giải đáp nhanh chóng, kịp thời.

Thủ tục đăng ký kết hôn

Kết hôn là một việc quan trọng của mỗi người và việc đăng ký kết hôn trở thành quan trọng vì nó hợp pháp mối quan hệ hôn nhân đó. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào pháp luật cũng thừa nhận mối quan hệ đó, vì những lý do khác nhau việc đăng ký kết hôn trở nên khó khăn hơn; nếu có vướng mắc về thủ tục đăng ký kết hôn cũng như các vấn đề pháp lý về lĩnh vực hôn nhân gia đình hay muốn thực hiện các thủ tục hành chính nhanh gọn, tránh mất thời gian.Qúy khách vui lòng liên hệ công ty Luật Tuệ Anh –  1900 6226 để biết thêm chi tiết.

1. Điều kiện đăng ký kết hôn

Theo quy định của Luật HN&GĐ nam nữ phải đáp ứng các điều kiện dưới đây:

  • Độ tuổi: nữ đủ 18 tuổi, nam đủ 20 tuổi
  • Ý chí tự nguyện: Việc kết hôn phải xuất phát từ sự tự nguyện của hai bên nam nữ, không bên nào gượng ép bên nào.

2. Hồ sơ đăng ký kết hôn

Theo quy định của Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì hồ sơ đăng ký kết hôn bao gồm:

  • Tờ khai đăng ký kết hôn của mỗi bên theo quy định;
  • Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ. Trong trường hợp pháp luật nước ngoài không quy định về việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tuyên thệ của người đó hiện tại không có vợ hoặc không có chồng phù hợp pháp luật của nước đó;
  •  Giấy chứng minh nhân dân của hai bên nam nữ.
  •   Giấy tờ hộ khẩu của hai bên nam nữ.

Tư vấn Luật HN&GĐ

3. Thẩm quyền giải quyết đăng ký kết hôn

  • UBND xã/phường nơi một trong hai người đăng ký hộ khẩu thường trú ( đối với công dân Việt Nam kết hôn với nhau)
  • Sở tư pháp trực thuộc UBND tỉnh/thành phố nơi công dân Việt Nam đăng ký hộ khẩu thường trú ( đối với trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài).

4. Thời hạn đăng ký kết hôn

Thời hạn giải quyết là 05 ngày kể từ ngày UBND nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp cần xác minh thì thời gian giải quyết là 10 ngày làm việc.

5. Tổng đài tư vấn thủ tục đăng ký kết hôn 1900 6226

Trên đây là những nội dung công ty Luật Tuệ Anh tư vấn về thủ tục đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác nhau cần được Luật sư tư vấn cụ thể, chi tiết hơn; để giải đáp những vướng mắc vui lòng gọi tổng đài 1900 6226 để được giải đáp nhanh chóng, kịp thời.